Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

CHỨNG BỆNH NỔI MỀ ĐAY VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Mày đay là một phản ứng viêm của da, có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học chính là histamin. tuy là một bệnh da phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm.


Biểu hiện mề đay ở trẻ
Có nhiều yếu tố gây bệnh (bên trong, bên ngoài cơ thể, cơ địa) và trên một bệnh nhân, nhiều khi không chỉ có một mà gồm nhiều yếu tố cùng kết hợp.

Diễn tiến bệnh

Cấp tính: Xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc.

Mạn tính: Kéo dài trên 6 tuần, đa số là tự phát (vô căn), trường hợp này phải dựa vào những nghiên cứu thật công phu, tỉ mỉ mới có thể tìm được nguyên nhân.

Thuốc chống dị ứng chỉ giải quyết được triệu chứng tạm thời. Muốn điều trị hiệu quả thì cái chính là phải tìm cho ra nguyên nhân, đôi khi không mấy dễ dàng.

Các dạng mày đay
Mày đay thông thường

Bệnh bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù có màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng có giới hạn rõ lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác.
Phù mạch (còn gọi là phù Quincke).

Nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc…), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mày đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu.
Da vẽ nổi

Còn gọi là mày đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù xát nhẹ lên da, vài phút sau trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mày đay.

Ngoài ra mày đay còn có những dạng khác như sẩn nhỏ, sẩn – mụn nước hay xuất huyết.

Mày đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu.

Các nguyên nhân gây nổi mày đay
Mày đay thông thường

a. Thức ăn: Những loại có thể gây dị ứng như sữa, trứng, cá biển, tôm cua, sò, ốc, phô mai, đồ hộp, mắm, tương, chao, sô-cô-la, rượu, bia. Các chất tạo màu thực phẩm và các chất bảo quản thực phẩm.

b. Thuốc: Có thể xảy ra ngay sau khi dùng lần đầu hoặc từ 5-10 ngày sau. Nổi mày đay đơn thuần hay có kèm với sốt, đau khớp, nổi hạch… Các thuốc thường gây dị ứng nổi mày đay là Pennicillin (nguy hiểm nhất), Aspirin, thuốc hạ nhiệt, các chất cản quang có chứa iod (trong chụp X – quang), thuốc ức chế men chuyển (điều trị cao huyết áp, suy tim), thuốc gây mê, huyết thanh, vaccin v.v…

c. Nọc độc: Ong, kiến, sâu bọ…

d. Kháng nguyên hô hấp: Rơm rạ, phấn hoa, bụi nhà, lông vũ, men mốc…

e. Nhiễm:

- Virus (viêm gan siêu vi B, C).

- Vi khuẩn (ở tai, mũi, họng; bộ phận tiêu hóa, răng, miệng, niệu sinh dục).

- Ký sinh trùng đường ruột (giun, sán, giun kim).

- Nấm (candida ở da, nội tạng).
Mày đay do tiếp xúc (với chất hữu cơ hay hóa học).
Mày đay vật lý

a. Da vẽ nổi.

b. Mày đay do vận động xúc cảm.

c. Mày đay do chèn ép, chấn động.

d. Mày đay do lạnh, nóng, nước, ánh sáng mặt trời.
Mày đay hệ thống

a. Bệnh chất tạo keo (luput đỏ…).

b. Viêm mạch.

c. Bệnh nội tiết (tiểu đường, cường giáp).

d. Bệnh ung thư.
Mày đay do di truyền
Mày đay tự phát (vô căn).

Điều trị mày đay

- Tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết.

- Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng; Tránh các chất kích thích như gia vị, rượu, trà, cà phê…

Trong cơn cấp:

+ Ăn nhẹ, giảm muối.

+ Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (một phần giấm hai phần nước) để thoa hay tắm.

+ Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Hiện nay có một số thuốc chống dị ứng (thuốc kháng histamin) thế hệ mới không gây buồn ngủ, có thể sử dụng như:
Tên thuốc Liều dùng/ ngày

Loratadine (Clarityne) 10mg x 1 viên.

Cetirizine (zyrtec) 10mg x 1 viên.

Acrivastine (Semprex) 8mg x 3 viên.

Astemizole (Hismanal) 10mg x 1 viên.

Thuốc corticoides (uống hay tiêm) chỉ nên dùng trong điều trị mày đay cấp, nặng, kèm phù thanh quản; Một số trường hợp nổi mày đay do viêm mạch, mày đay do chèn ép không đáp ứng với các thuốc kháng histamin thông thường; Không nên dùng để điều trị mày đay mạn tính tự phát.

Đối với mày đay mãn tính: vì thường có liên quan tới các bệnh lý bên trong nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.

XÉT NGHIỆM VÀ CHUẨN ĐOÁN MỀ ĐAY PHÙ MẠCH

Đôi khi không thể xác định được nguyên nhân gây mày đay hoặc phù mạch. Chẩn đoán thường dựa vào bệnh sử, nhất là thông tin chi tiết về việc tiếp xúc với những chất gây kích ứng.


Mề đay phù mạch
Bệnh nhân cần nói cho bác sĩ biết về tất cả các loại thuốc đang dùng, kể cả thuốc đông y và những thuốc không thường xuyên dùng hằng ngày. Bác sĩ cũng có thể tiến hành thử phản ứng dị ứng ở da.

Nếu nghi ngờ phù mạch di truyền, có thể làm xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ và chức năng của một số loại protein đặc hiệu trong máu.

Nếu nghi ngờ dị ứng với thực phẩm, latex, lông động vật, phấn hoa hoặc thuốc, có thể làm xét nghiệm máu hoặc thử phản ứng dị ứng ở da.


MỀ ĐAY DỄ CHỮA NẾU BIẾT NGUYÊN NHÂN

Thỉnh thoảng, anh Hưng (40 tuổi, Hà Nội) lại thấy da bị phù và rất ngứa, lúc ở mặt, mí mắt, môi, thậm chí ở cả ‘của quý’. Đi khám, anh mới biết mình bị mày đay vì dị ứng với cua đồng.


Ảnh minh họa
Lúc đầu, thấy da phù, càng gãi càng ngứa, anh Hưng nghĩ mình chỉ bị dị ứng bình thường, uống thuốc vào là khỏi. Thế nhưng suốt 6 tháng, cứ thỉnh thoảng anh lại thấy các nốt phù nổi lên rồi lại lặn sau vài giờ. Sau này, bác sĩ cho biết nguyên nhân là do anh ăn cua đồng, không ăn nữa thì khỏi.

Câu chuyện trên được bác sĩ Nguyễn Thành, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Da liễu Trung ương kể lại bên lề hội thảo về bệnh mày đay sáng nay, tại Hà Nội.

Ông Thành cho biết mày đay là một dạng của bệnh dị ứng. Da của người bệnh thường bị sẩn, phù, xuất hiện rất nhanh ở bất kỳ vùng da nào, kích thước to nhỏ khác nhau. Sẩn nổi trên mặt da, có thể hơi đỏ hoặc nhợt nhạt hơn vùng da xung quanh. Kích thước và hình dáng của các mảng sẩn thay đổi nhanh chóng, khi lặn đi thường không để lại dấu vết gì.

“Đa số người bệnh thường cảm thấy rất ngứa, cũng có trường hợp chỉ cảm giác châm chích hoặc rát bỏng. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và hay tái phát. Mỗi ngày có 10-20 người đến khám vì bị bệnh này ở Bệnh viện Da liễu Trung ương”, ông Thành cho biết.

Theo ông, mày đay thường không ảnh hưởng đến sức khỏe bởi chỉ là biểu hiện ngoài da, nhưng làm bệnh nhân khó chịu. Bệnh dễ phát hiện vì có biểu hiện rõ ràng nhưng lại khó chữa vì khó xác định nguyên nhân. Tùy cơ địa, mỗi người có tác nhân gây bệnh khác nhau, có thể do phấn hoa, bụi, thuốc, hải sản, rượu bia, sơn… “Chỉ cần tránh tác nhân gây mày đay là sẽ không bị bệnh nữa”, ông Thành nói.

Các chuyên gia da liễu khuyến cáo, khi da có biểu hiện sẩn, phù, người dân nên ngừng sử dụng tất cả các loại thuốc hoặc thực phẩm nghi ngờ gây dị ứng, hạn chế gãi, chà xát mạnh trên da. Bạn có thể áp lạnh hoặc tắm lạnh, tránh tắm nóng, tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp, mặc quần áo cotton nhẹ nhàng, tránh các hoạt động nặng hoặc các nguyên nhân gây ra mồ hôi.


Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

HỎI ĐÁP : ĐIỀU TRỊ MỀ ĐAY TRONG THAI KỲ

Tôi có bầu đươc 5 tuận Nhưng tôi bị mề đay đã mấy tháng nên liên tục phải dùng thuốc, hiện tại tôi đang dùng thuốc chlophemiramin, ngày 2 viên nhưng không thuyên giảm đươc bao nhiệu Tôi đang rất lo lắng không biết thuốc có ảnh hưởng gì đến thai nhi và nếu cứ uống liên tục thì có được không, tôi đã đi khám ở Viện da liễu sài gòn bác sĩ khuyên tôi nên hạn chế dùng thuốc nhưng do ngứa quá nên tôi vẫn phải dùng, chân thành cảmơn

 (Trần Thị Thúy) 

>>> Thuốc trị mề đay tốt nhất hiện nay

Mề đau khi mang thai
(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)
Trả lời:
Mề đay gây ngứa, làm thai phụ rất khó chịu và lo lắng. Tuy nhiên, bạn nên yên tâm vì thai vẫn phát triển bình thường và ngay sau khi sinh, bệnh sẽ khỏi hoàn toàn.

Để điều trị, bạn chỉ cần bôi thuốc chống ngứa tại chỗ. Nên bôi kem phenergan, nếu không đỡ có thể dùng kem hoặc mỡ hydrocortisol 0,1% hoặc eumovate 0,05% (nhưng không được bôi diện rộng và kéo dài). Bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng.

Để tránh tình trạng này, chị em nên tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc thoáng để tránh đổ mồ hôi. Vào mùa đông, không nên dùng nước quá nóng vì dễ kích thích cơn ngứa. Dùng các loại sữa tắm dịu nhẹ, tốt nhất là mua ở hiệu thuốc loại sữa tắm không kích ứng dùng cho da mẫn cảm. Hạn chế tiếp xúc với chất tẩy rửa, hóa mỹ phẩm, nhất là các loại có hương thơm.

Tuy bệnh thường khỏi khi thai kỳ chấm dứt nhưng nếu thai phụ gãi mạnh, làm xước da và dẫn đến nhiễm trùng thì chứng ngứa có thể trở nên dai dẳng khó chữa vì tổn thương da đã bị chàm hóa. Do đó, chị em nên cắt móng tay, giữ tay sạch và không nên gãi mạnh.

Chúc bạn mau khỏi!

HỎI ĐÁP VỀ BỆNH MỀ ĐAY??

Tôi bị bệnh mề đay hơn một năm. Đi khám và điều trị tại khoa dị ứng của một cơ sở y tế, bác sĩ cho uống thuốc và chích. Thế nhưng cứ ngưng thuốc hai, ba ngày là bệnh tái phát như cũ, mề đay nổi khắp người và gây ngứa ngáy rất khó chịu. Chẳng lẽ tôi cứ phải uống thuốc hoài. Uống thuốc dị ứng kéo dài nhiều ngày có tác dụng phụ gì? Muốn khám và điều trị hết bệnh, tôi phải đến đâu? 
N.T.D. (Biên Hòa, Đồng Nai) và Ngọc Hùng (TP.HCM)

Bệnh mề đay

Trả lời:
 Bệnh mề đay do nhiều nguyên nhân gây ra, cần phải tìm hiểu rõ qua bệnh sử, qua các đợt tái phát để có thể tìm được nguyên nhân gây bệnh (tuy rất khó khăn). Xác định một số nguyên nhân cụ thể như gió lạnh, khí hậu lạnh, mặc quần áo bó chặt, do thức ăn thức uống, do thuốc, mồ hôi… có thể giúp ích cho điều trị. Ngoài ra còn có một số nguyên nhân không cụ thể như mề đay do cơ địa dị ứng (atopic urticaria), hoặc mề đay do nhiễm ký sinh trùng trong máu (cần xét nghiệm để xác định). Nguy hiểm duy nhất của bệnh mề đay là phù nề thanh quản, gây khó thở cần được cấp cứu ngay ở cơ sở y tế gần nhất. Các thuốc điều trị mề đay bao gồm Fexofénadine, Lévocétirizine, Cétirizine, Desloratadine… cần phải uống liên tục và giảm liều dần. Ngừng thuốc đột ngột có thể gây tái phát, nếu là mề đay do cơ địa dị ứng. Ông cần đến Bệnh viện Da liễu TP.HCM để được khám và điều trị.

ĐIỀU TRỊ BỆNH MỀ ĐAY

Tôi ngày nào cũng bị nổi mày đay khắp cả cơ thể, cũng đã được 1 năm rồi. Tôi đã đến khám BS và BS đã cho thuốc uống nhưng vẫn chưa khỏi . Xin hãy cho tôi biết cách điều trị như thế nao? (võ minh hưng) 


Bệnh mề đay

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Trả lời:

Nguyên nhân bệnh mày đay, sự dãn mạch máu, gia tăng tính thấm thành mạch, sự thoát dịch của mạch và protein là do histamin. Histamin làm trung gian trong nhiều loại đáp ứng ở mô và tế bào. Nó cũng là một chất trung gian hóa học quan trọng nhất trong bệnh mề đay. Ngoài ra một số chất vận mạch như leucotrienes, prostaglandins, kinins và yếu tố hoạt hóa tiểu cầu cũng có một số vai trò, đang được đầu tư nghiên cứu tích cực. Còn một loại mày đay do cơ chế không miễn dịch. Cơ chế của mày đay này gồm rối loạn bổ thể, biến đổi chuyển hóa acid arachidonic và các tác nhân tác động trực tiếp trên dưỡng bào (tế bào mast).

Bạn nên đến khám tại các bệnh viện lớn để được khám bệnh kỹ, hỏi bệnh sử và làm xét nghiệm trong trường hợp mề đay mãn tính bao gồm công thức máu, thử chức năng gan, thận, định lượng bổ thể, xét nghiệm về bệnh chất tạo keo (collagen), huyết thanh chẩn đoán viêm gan siêu vi B và C, sinh thiết da trong trường hợp nghi ngờ viêm mạch mề đay, thử nghiệm phóng thích histamin của tế bào basophil.

Điều trị mày đay: loại bỏ nguyên nhân gây ra bệnh (cá biển, phấn hoa, thuốc sulphamide...) phối hợp với việc dùng thuốc kháng histamin (là một phương pháp được chấp thuận rộng rãi với các chuyên gia ngoài da) cho tới khi bệnh tự khỏi. Khi có triệu chứng phù họng, thanh quản đi kèm tiêm adrenalin dưới da (0.03mg – 0.05 mg trong dung dịch pha loãng 1/1000). Khi có thắt phế quản kéo dài thì phả truyền tĩnh mạch aminophyllin và dùng thuốc dạn phế quản dạng khí dung.

Điều trị bằng corticoides bắt đầu tác dụng chậm và không phải là lựa chọn hàng đầu cho phản ứng toàn thân. Nhưng nó được dùng để điều trị phòng ngừa các phản ứng kéo dài liên tục 30mg prednisolone/ngày và giảm liều dần trong 3 – 7 ngày.

Bệnh mày đay vừa phải kết hợp dùng thuốc với chế độ sinh hoạt hợp lý và phải kiên trì mới mau khỏi bệnh.

Chúc bạn sớm khỏi bệnh.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

QUẢ TRỊ BỆNH MỀ ĐAY



Tham khảo hai bài thuốc dưới đây trong việc điều trị nổi mề đay

Quả khế


Bài 1

Thành phần: Vải khô 9-14 quả, đường đỏ 30 gam.

Cách chế: Sắc vải khô lấy 1 bát nước.

Công hiệu: Chữa nổi mề đay trên da.

Cách dùng: Hòa nước đường uống.

Bài 2


Thành phần: Khế tươi 500 gam.


Cách chế: Rửa sạch, giã nát, đổ nước nấu kỹ.

Công hiệu: Chữa nổi mề đay trên da.

Cách dùng: Lấy nước rửa da, ngày 3 lần, đồng thời ăn khế ướp muối.


MỀ ĐAY CHỨNG DỊ ỨNG KHÓ TRỊ


Các thức ăn hay gây mày đay là lạc, trứng, cà chua, cá, chocolate, bơ sữa, gia vị, một số loại men rượu, bia và hoa quả tươi như cam, quýt. Nhiều khi chính gia vị và chất bảo quản chính là thủ phạm gây dị ứng chứ không phải bản thân thức ăn.
 

Mày đay do thức ăn thường xuất hiện vài phút hoặc vài giờ sau khi ăn, phụ thuộc vào tốc độ và tỷ lệ hấp thu.

Triệu chứng dị ứng của bệnh mề đay

Mày đay được hình thành do giãn các mạch máu nhỏ trên da, giải phóng các hóa chất trung gian của cơ thể, thường gặp nhất là histamin. Histamin được giải phóng từ tế bào Mast khi có kích thích.

Tổn thương chủ yếu của bệnh là các sẩn phù hoặc ban đỏ ngứa trên da, ranh giới rõ, kích thước đa dạng từ vài mm đến vài cm. Chúng tồn tại vài giờ, sau đó nhạt màu dần và biến mất một cách ngẫu nhiên hoặc do điều trị.

Mày đay có thể xuất hiện riêng rẽ hoặc đi kèm với phù Quincke (là tổn thương xuất hiện ở các tổ chức lỏng lẻo hoặc niêm mạc, bán niêm mạc, gây sưng phồng, chẳng hạn phù Quincke ở mắt có thể làm cho mi mắt sưng to không mở ra được).

Có rất nhiều nguyên nhân gây vỡ hạt tế bào Mast để giải phóng histamin; hay gặp nhất là thuốc, thức ăn và nhiễm virus… Trong một số trường hợp, rất khó xác định nguyên nhân gây bệnh. Bất cứ thuốc nào cũng có thể gây dị ứng, tuy nhiên loại hay gặp nhất là các thuốc giảm đau chống viêm, kháng sinh, tia xạ… Một số bệnh nhân còn mắc mày đay do các yếu tố vật lý như ánh nắng mặt trời, lạnh, áp lực, thậm chí có thể do mồ hôi.

Khi biểu hiện mày đay kéo dài trên 6 tuần thì được gọi là mày đay mạn tính. Không dễ xác định nguyên nhân ở các trường hợp này. Bởi vì mày đay mạn tính cũng có thể do các yếu tố vật lý, hoặc do thức ăn, một số khác lại do nguyên nhân nhiễm trùng. Yếu tố cảm xúc cũng có thể là một nguyên nhân ở một số ít bệnh nhân.

Về mặt điều trị, quan trọng nhất là nhận biết nguyên nhân gây bệnh và tránh tối đa tiếp xúc với các nguyên nhân đó. Những bệnh nhân dị ứng với thức ăn nên loại bỏ các thực phẩm chứa thành phần gây dị ứng. Khi bệnh đang trong đợt cấp, nên sử dụng thuốc kháng histamin H1 để giảm ngứa cho bệnh nhân.

Ưu tiên sử dụng kháng histamin thế hệ mới, trừ phi bệnh nhân mất ngủ do ngứa nhiều về đêm. Để ngăn ngừa bệnh tái phát, có bệnh nhân phải sử dụng thường xuyên thuốc kháng histamin. Một số thuốc khác cũng được sử dụng như corticosteroid, kháng histamin H2, doxepin, kháng leukotrien… Các loại kem kháng histamin sử dụng tại chỗ trên da không có hiệu quả trong các trường hợp này.

Xét nghiệm da thường là không thu được nhiều kết quả tốt trong chứng mày đay. Một số bệnh nhân nên xét nghiệm máu và nước tiểu để loại bỏ nguyên nhân nhiễm trùng gây mày đay mạn tính. Nếu nghi ngờ bị mày đay mạn tính, tốt nhất bạn nên đến khám và tư vấn các bác sĩ chuyên khoa dị ứng để có phương pháp điều trị hiệu quả nhất.




GIẢI PHÁP AN TOÀN CHO VIỆC ĐIỀU TRỊ BỆNH MỀ ĐAY


Mề đay là một phản ứng của viêm da, có cơ chế phát sinh phức tạp, trong đó có sự tham gia của chất trung gian là histamin. Tuy là một bệnh phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng bệnh mề đay lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm.
>>> Thuốc đặc trị bệnh mề đay
Các biểu hiện của bệnh mề đay

Nhận diện bệnh

Khi bị mề đay, triệu chứng dễ nhận thấy nhất là trên da nổi lên từng đám mụn tập trung hoặc rải rác, không đều, màu hồng hoặc xanh trắng và rất ngứa. Việc điều trị mề đay hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc điều trị triệu chứng, sử dụng các thuốc có thành phần kháng histamin và loại bỏ nguyên nhân. Chính vì vậy, khi một người đã mắc bệnh mề đay thì khả năng tái phát trong thời gian ngắn là khó tránh khỏi. Giải quyết tận gốc căn bệnh đang là mối trăn trở của nhiều bác sỹ khi điều trị căn bệnh này.

Kết hợp Đông - Tây Y trong điều trị
Việc kết hợp Đông - Tây y trong điều trị triệt để bệnh mề đay đang được các bác sỹ hướng tới. Một số nghiên cứu đã cho thấy, việc sử dụng sản phẩm có nguồn gốc thảo dược để điều tiết công năng miễn dịch của cơ thể, hỗ trợ điều trị tận gốc căn bệnh mề đay tỏ ra có hiệu quả. Một trong những loại sản phẩm điều trị bệnh mề đay theo hướng này là Phụ Bì Khang.

Phụ Bì Khang đã được khẳng định
Về các giải pháp chữa trị bệnh mề đay, các GS-BS ở Bệnh viện Da liễu TƯ và khoa da liễu Bệnh viện Bạch Mai cũng đã có buổi trao đổi về sản phẩm Phụ Bì Khang trong việc hỗ trợ điều trị tận gốc bệnh mề đay. Phụ Bì Khang là sự kết hợp của các thành phần như cao gan, cao nhàu và L - Carnitine Fumarate có tác dụng tăng cường chức năng thải độc và giải độc của cơ thể, tăng cường năng lượng tế bào giúp tăng sức đề kháng cơ thể chống lại các yếu tố dị nguyên xâm nhập.

Cũng vì lẽ đó mà sản phẩm Phụ Bì Khang đã được sự đồng ý của các chuyên gia trong lĩnh vực này tiếp nhận các đề tài nghiên cứu khoa học “Vai trò của Phụ bì khang trong hỗ trợ điều trị mề đay” tại BV Da liễu Trung ương và Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Hà Nội.

Một ghi nhận hơn nữa về hiệu quả của Phụ Bì Khang trong điều trị mề đay là kết luận của Bộ môn Dị ứng Trường ĐH Y Hà nội trong kết quả nghiên cứu đã đăng trên"Tạp chí Y học Thực hành" của Bộ Y Tế xuất bản số tháng 3/2010: “ Phụ Bì Khang giúp hỗ trợ dự phòng và điều trị hiệu quả các trường hợp mày đay cấp và mãn tính – hiệu quả tốt làm giảm số ngày điều trị - giảm hẳn tái phát”.

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

MỀ ĐAY DỂ CHỮA NẾU BIẾT NGUYÊN NHÂN


(40 tuổi, Hà Nội) lại thấy da bị phù và rất ngứa, lúc ở mặt, mí mắt, môi, thậm chí ở cả 'của quý'. Đi khám, anh mới biết mình bị mày đay vì dị ứng với cua đồng.
Khám và tư vấn
Lúc đầu, thấy da phù, càng gãi càng ngứa, anh Hưng nghĩ mình chỉ bị dị ứng bình thường, uống thuốc vào là khỏi. Thế nhưng suốt 6 tháng, cứ thỉnh thoảng anh lại thấy các nốt phù nổi lên rồi lại lặn sau vài giờ. Sau này, bác sĩ cho biết nguyên nhân là do anh ăn cua đồng, không ăn nữa thì khỏi.

Câu chuyện trên được bác sĩ Nguyễn Thành, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Da liễu Trung ương kể lại bên lề hội thảo về bệnh mày đay sáng nay, tại Hà Nội.

Ông Thành cho biết mày đay là một dạng của bệnh dị ứng. Da của người bệnh thường bị sẩn, phù, xuất hiện rất nhanh ở bất kỳ vùng da nào, kích thước to nhỏ khác nhau. Sẩn nổi trên mặt da, có thể hơi đỏ hoặc nhợt nhạt hơn vùng da xung quanh. Kích thước và hình dáng của các mảng sẩn thay đổi nhanh chóng, khi lặn đi thường không để lại dấu vết gì.

"Đa số người bệnh thường cảm thấy rất ngứa, cũng có trường hợp chỉ cảm giác châm chích hoặc rát bỏng. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và hay tái phát. Mỗi ngày có 10-20 người đến khám vì bị bệnh này ở Bệnh viện Da liễu Trung ương", ông Thành cho biết.

Theo ông, mày đay thường không ảnh hưởng đến sức khỏe bởi chỉ là biểu hiện ngoài da, nhưng làm bệnh nhân khó chịu. Bệnh dễ phát hiện vì có biểu hiện rõ ràng nhưng lại khó chữa vì khó xác định nguyên nhân. Tùy cơ địa, mỗi người có tác nhân gây bệnh khác nhau, có thể do phấn hoa, bụi, thuốc, hải sản, rượu bia, sơn... "Chỉ cần tránh tác nhân gây mày đay là sẽ không bị bệnh nữa", ông Thành nói.

Các chuyên gia da liễu khuyến cáo, khi da có biểu hiện sẩn, phù, người dân nên ngừng sử dụng tất cả các loại thuốc hoặc thực phẩm nghi ngờ gây dị ứng, hạn chế gãi, chà xát mạnh trên da. Bạn có thể áp lạnh hoặc tắm lạnh, tránh tắm nóng, tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp, mặc quần áo cotton nhẹ nhàng, tránh các hoạt động nặng hoặc các nguyên nhân gây ra mồ hôi.

TRIỆU CHỨNG BỆNH MỀ ĐAY



Mề đay hay mày đay là một loại bệnh dị ứng ngoài da, gây phù tại chỗ. Các vết mề đay có hình dạng không nhất định, có thể nhỏ như hạt đậu nhưng cũng có thể xuất hiện thành những mảng đỏ lớn, sưng phù và ngứa ngáy. Các cơn mề đay thường xuất hiện vài giờ rồi tự biến mất.

Triệu chứng

Mề đay ở lưng và tay

Trên da nổi lên từng đám (dề) nhiều ít, không đều, màu hồng hoặc xanh trắng, rất ngứa. Thường vài ngày hoặc có khi lâu hơn mới hết. Trên lâm sàng thường gặp 2 loại sau:

+ Do Phong Thấp: mề đay màu trắng hoặc hơi hồng, thân thể nặng nề, nước tiểu trong hoặc hơi đục, rêu lưỡi trắng, nhờn và dầy.

+ Do Phong Nhiệt: mề đay màu hồng tươi, khát, mặt có lúc bốc nóng, nước tiểu vàng, táo bón, gặp lạnh thì dễ chịu, rêu lưỡi vàng...
Nên làm gì?

Mề đay cũng có thể gặp những loại gây ung thư nguy hiểm cho tính mạng (ở đường hô hấp, đường tiêu hóa hay tổ chức thần kinh), vì vậy, khi nghi ngờ bị bệnh mề đay, nên đến khám bác sĩ để được xác định, điều trị dứt điểm và đề phòng biến chứng xảy ra. Nếu xác định được nguyên nhân thì việc chỉ định thích hợp và phòng tái phát cũng thuận lợi hơn rất nhiều. Từ ngày phát minh ra thuốc kháng histamin, nhất là các loại kháng histamin tổng hợp thì việc điều trị các bệnh dị ứng, đặc biệt là bệnh mề đay có hiệu nghiệm hơn rất nhiều. 

Ăn, uống cũng được góp khá tích cực trong việc phòng bệnh mề đay tái phát. Người bị bệnh mề đay nên kiêng các loại thức ăn dễ gây bệnh mề đay như tôm, cua, ốc. Không nên uống rượu, bia bởi vì đây là yếu tố thuận lợi cho bệnh mề đay tái phát. Mùa lạnh cần mặc đủ ấm, nhất là khi có gió mùa Đông Bắc tràn về và khi ra khỏi nhà. Cần giữ vệ sinh môi trường sống, vệ sinh răng miệng, mũi họng để tránh mắc các bệnh do vi sinh vật gây ra bởi các độc tố của chúng và cũng là các loại dị nguyên lạ đối với cơ thể.

Đề phòng bệnh mề đay do giun sán, nên tẩy giun định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ. Khi bị bệnh mề đay, nên hạn chế gãi để tránh gây chảy máu làm da bị bội nhiễm gây viêm da, mưng mủ làm khó khăn cho việc điều trị và đôi khi còn gây nguy hiểm (ví dụ như nhiễm khuẩn huyết).

NGUYÊN NHÂN BỆNH MỀ ĐAY

Mề đay hay mày đay là một loại bệnh dị ứng ngoài da, gây phù tại chỗ. Các vết mề đay có hình dạng không nhất định, có thể nhỏ như hạt đậu nhưng cũng có thể xuất hiện thành những mảng đỏ lớn, sưng phù và ngứa ngáy. Các cơn mề đay thường xuất hiện vài giờ rồi tự biến mất.

>> THUỐC ĐẶC TRỊ CÁC BỆNH NGOÀI DA
Mề đay có thể là do dị ứng với một số loại thực phầm như hải sản, thịt bò, thịt gà..

Mề đay là một loại bệnh dị ứng ngoài da khá phổ biến, bệnh tiến triển theo 2 thể bệnh khác nhau là:

Cấp tính: Tình trạng dị ứng xuất hiện trong khoảng vài tuần rồi hết. Thể bệnh này tương đối dễ tìm kiếm nguyên nhân và điều trị.

Mãn tính: Các cơn dị ứng xuất hiện kéo dài trên 6 tuần. Thể bệnh này có thể gây nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động, có khi kèm theo biến chứng nặng, thậm chí gây tử vong.

Nguyên nhân

Bệnh có thể gây nên do yếu tố cơ địa dị ứng (nhạy cảm với chất kích thích) và các yếu tố ngoại lai như thức ăn tanh như cua cá tôm sò ốc hến, đồ hộp, thịt bò, thịt gà, các loại thuốc (trụ sinh, an thần, hạ nhiệt, giảm đau...), các loại huyết thanh, các loại thảo mộc như lá cây hoa, các ổ nhiễm khuẩn, các loại ký sinh trùng đường ruột, do khí hậu thời tiết, hoá chất... hoặc do yếu tố tinh thần (bực bội, lo lắng, buồn phiền quá mức) tác động vào cơ thể gây ra bệnh.

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp bị mề đay mãn tính không tìm được nguyên nhân gây bệnh.

TRỊ MỀ ĐAY


Mề đay và cách chữa trị

Nổi mề đay là bệnh da phổ biến gây khó chịu, thậm chí choáng váng ngất xỉu. Bệnh khó chẩn đoán đúng nguyên nhân dù đã thực hiện đủ các xét nghiệm và không dễ điều trị dứt.


Mề đay là phản ứng viêm da có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học histamin. Thống kê cho thấy, cứ 100 người thì có từ 15 đến 20 người bị nổi mề đay và khả năng tái phát bệnh này nhiều lần trong đời. Phụ nữ dễ nổi mề đay hơn nam giới và ở độ tuổi từ 20 đến 40.
Biểu hiện thường thấy của mề đay trên da

Mề đay cấp tính xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc. Trường hợp nặng, người nổi mề đay cấp tính có thể bị choáng váng, ngất xỉu do áp huyết xuống thấp.

Mề đay mạn tính là một bệnh lý khá phức tạp với rất nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau chứ không phải chỉ do ký sinh trùng, thức ăn hay thời tiết. Nguyên nhân gây bệnh có thể còn do thuốc, kháng nguyên hô hấp (phấn hoa, bụi, men mốc…), mày đay do bệnh nội tiết…

Mề đay thông thường bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì mề đay lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác.

Da vẽ nổi còn gọi là mề đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù cà nhẹ lên da, vài phút sau trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mày đay.

Phù mạch (còn gọi là phù quincke): Nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mề đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu.

Những dạng khác như sẩn nhỏ, sẩn mụn nước hay xuất huyết. Mề đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu.

Để điều trị mề đay, trước tiên cách tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết. Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng. Tránh các chất kích thích như gia vị, rượu, trà, cà phê...

Trong cơn cấp, người bệnh có thể ăn nhẹ, giảm muối. Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (một phần giấm hai phần nước), Mentol 1%, dung dịch Calamine để thoa hay tắm. Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Đối với mày đay mãn tính do thường có liên quan đến các bệnh lý nội khoa nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám bệnh, thực hiện thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.

Bác sĩ Lê Đức Thọ
Bệnh viện Fortis Hoàn Mỹ Sài Gòn

TÌM HIỂU VỀ BỆNH MỀ ĐAY

Chứng mề đay là gì? 
Chứng mề đay (phát ban) rất thường xảy ra ở trẻ em. Chỉ trong vài phút mề đay nổi lên thành những mảng (mụn) đỏ rất ngứa kéo dài khoảng một giờ, rồi sau đó lặn hoàn toàn và da trở lại bình thường. Đối với trẻ em, mề đay có thể nổi lên trông giống như những vết bầm. Khi trẻ em nổi mề đay trong môi trường nóng sẽ làm cho tình trạng trở nên tệ hơn hay ngứa hơn.


Mề đay lưng
Mề đay nổi lên ở đâu?

Mề đay có thể nổi lên ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể như trên mặt, thân thể và tay chân. Hầu hết những trường hợp nổi mề đay chỉ kéo dài trong vài ngày với các mụn đỏ nổi lên rồi lặn xuống. Đôi khi, chứng mề đay tái diễn trong vài tháng.

Nguyên nhân nào gây ra?
Đa số những trường hợp nổi mề đay không có nguyên nhân rõ rệt. Người ta nghĩ rằng nguyên nhân thông thường nhất gây ra nổi mề đay ở trẻ em la do bị những bệnh nhiễm siêu vi tuy nhiên trẻ em thường khỏe mạnh. Trong những trường hợp đó tình trạng nổi mể đay sẽ lặn hết trong vòng chưa đầy một tuần lễ, nhưng lại có thể nổi lên do những bệnh khác. Những bệnh nhiễm trùng cũng có thể gây ra tình trạng nổi mể đay và có thể cần được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Chứng mề đay cũng thường do bị dị ứng với một số loại thức ăn nào đó như dâu tây hay hải sản. Đôi khi những loại thuốc như thuốc trụ sinh penicillin có thể gây ta tình trạng nổi mề đay.

Trị liệu bằng cách nào?
Những mảng đỏ ngứa trên da là do cơ thể tiết ra chất histamin để phản ứng với tình trạng da bị dị ứng. Do đó, bác sĩ thường cho uống si rô chống chất histamine. Loại thuốc này thường kiềm chế được hầu hết các chứng nổi mề đay. Nên tránh môi trường nóng trong lúc mề đay nổi lên vì sẽ làm cho tình trạng trở nên tệ hại hơn. Dùng quạt hay khăn lạnh đắp lên nơi bị ngứa của em bé sẽ làm cho bớt ngứa và mề đay mau lặn hơn. Kem và thuốc thoa trên da chỉ giúp ít được phần nào.

Hầu hết các chứng nổi mề đay do thức ăn sẽ nổi lên trong vòng 12h sau khi ăn. Cố gắng nhận định xem loại thức ăn đặc biệt nào mà trẻ đã ăn trong vòng 12 giờ trước khi mề đay nổi lên. Các bạn có thể tìm ra thức ăn nào đã gây ra tình trạng này và tránh đừng cho trẻ ăn loại thức ăn này trong tương lai.

Những điểm quan trọng
- Đa số những trường hợp nổi mề đay không có nguyên nhân rõ rệt.
- Người ta nghĩ rằng nguyên nhân thông thường gây ra nổi mề đay là do nhiễm trùng siêu vi.
- Nổi mề đay có thể do bị dị ứng với một số thức ăn.
- Tránh nóng khi đang bị nồi mề đay và cố gắng giữ cho da càng mát mẻ càng tốt
- Thuốc chống chất histamin do bác sĩ chỉ định sẽ kiềm chế được những trường hợp nổi mề đay nghiêm trọng nhất nếu dùng thuốc kịp thời
- Kem hay thuốc thoa trên da chỉ giúp ít được phần nào.

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

TÁC DỤNG CỦA ĐỊA LONG TRONG TRỊ BỆNH MÀY ĐAY


Tên khác:
Vị thuốc Địa long còn gọi Thổ long (Biệt Lục), Địa long tử (Dược Tính Luận), Hàn hán, Hàn dẫn, Phụ dẫn (Ngô Phổ Bản Thảo), Cẩn dần, Nhuận nhẫn, Thiên nhân đạp (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo), Kiên tàm, Uyên thiện, Khúc thiện, Thổ thiện, Ca nữ (Bản Thảo Cương Mục), Dẫn lâu, Cận tần, Minh thế, Khước hành, Hàn hân, Khưu (khâu) dẫn, Can địa long, Bạch cảnh khâu dẫn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Giun đất, Trùn đất (Dược Điển Việt Nam)

>> ĐẶC TRỊ CÁC BỆNH


Tác dụng:
+ Đại giải nhiệt độc, hành thấp bệnh (Bản Thảo Giảng Nghĩa Bổ Di).
+ Thanh Thận, khứ nhiệt, thấm thấp, hành thủy, trừ thấp nhiệt ở Tỳ Vị, thông đại tiện thủy đạo  (Y Lâm Toản Yếu).
+ Trừ phong thấp, đờm kết, khứ trùng tích, phá huyết kết (Đắc Phối Bản Thảo).
+ Thanh nhiệt, trấn kinh, lợi niệu, giải độc (Trung Dược Học).
Chủ trị:
+ Trị sốt cao phát cuồng, động kinh co giật, hen phế quản, di chứng bại liệt nửa người, đau nhức do phong thấp, tiểu không thông.
Liều lượng: 8-12g. Trường hợp loét hạ chi mãn tính, dùng Giun đất tươi đâm nhuyễn với đường cát trắng đắp bên ngoài.
Kiêng kỵ:
+ Hư hàn mà không có thực nhiệt thì cấm dùng. Sợ Hành.
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị thương hàn nhiệt kết 1-7 ngày, nổi cuồng nổi loạn thấy ma qủy muốn bỏ chạy: Khâu dẫn nửa cân bỏ đất bùn, lấy nước Đồng tiện nấu uống, hoặc dùng  sống gĩa vắt lấy nước cho uống (Trửu Hậu Phương).
+ Trị tinh hoàn sưng hoặc thụt vào trong bụng, đau nhức khó chịu, thân thể nặng nề, đầu không thể dậy được, bụng dưới nóng đau, co thắt muốn chết: Khâu dẫn 24 con, sắc với một đấu nước còn 3 thăng, uống ngay. Hoặc lấy Khâu dẫn thật nhiều, gĩa vắt lấy nước uống (Trửu Hậu phương).
+ Trị tiêu ra huyết  do cổ độc: Khâu dẫn 14 con, 3 thăng giấm, ngâm cho tới khi Giun chết, lấy nước đó uống (Trửu Hậu phương).
+ Trị tay chân sưng đau muốn rời ra: Giun đất 3 thăng, 5 thăng nước, gĩa vắt lấy nước 1 thăng rưỡi uống (Trửu Hậu phương).
+ Trị răng đau nhức: Giun đất, tán bột xức vào (Thiên Kim phương).
+ Trị mắt đỏ đau: dùng Địa long 10 con sao tán bột, uống với nước trà 3 chỉ (Thánh Huệ phương).
+ Trị lợi răng chảy máu không cầm: bột Địa long, Khô phàn mỗi thứ 4g, Xạ hương một ít, nghiền đều, xức vào một ít (Thánh Huệ phương).
+ Trị ngón tay đau nhức: Khâu dẫn gĩa  nhỏ,  đắp vào (Thánh Huệ phương).
+ Trị lưỡi sưng cứng, không trị có thể chết người: Khâu dẫn 1 con, lấy muối hòa vào ngậm, sẽ giảm từ từ (Thánh Huệ phương).
+ Trị họng, thanh quản sưng đột ngột không ăn được:  Địa long 14 con, gĩa nát, đắp ngoài họng, lại lấy 1 con hòa nước muối bỏ vào chút mật ong uống (Thánh Huệ phương).
+ Trị tai chảy mủ: Địa long (còn sống) nghiền nát, trộn với nước Hành và mỡ heo, bọc bông nhét vào tai, hoặc dùng bột Địa long thổi vào (Thánh Huệ phương).
+ Trị trĩ mũi: Địa long sao 0,4g, Nha trạo 1 miếng, tán bột, trộn với ít mật ong, hòa ít nước lạnh, nhỏ vào lỗ mũi(Thánh Huệ phương).
+ Trị ráy tai khô cứng không ra: Khâu dẫn, bỏ vào trong lá Hành, nghiền nát,  hòa thành nước, nhỏ vào đầy lỗ tai vài lần thì ra (Thánh Huệ Phương).
+ Trị côn trùng vào tai: Địa long tán bột, bỏ vào trong Hành, hòa thành nước,  nhỏ vào (Thánh Huệ phương).
+ Trị dương độc kết tụ ở hông, đè vào rất đau, thở như suyễn, táo bón, cuồng loạn: Địa long sống 4 con, rửa sạch, nghiền nát như bùn, thêm một ít gừng tươi, một muỗng mật ong, một ít nước Bạc hà, lấy nước mới lấy ở dòng sông lên, nấu sôi quá thì thêm một ít Phiến não, mồ hôi ra thì đỡ, không đỡ dùng tiếp (Thương Hàn Uẩn Yếu phương).
+ Trị đau nhức do đầu phong: vào ngày mùng 5 tháng 5, chọn Khâu dẫn, trộn với một ít Long não, Xạ hương, làm thành viên to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần lấy 1  viên trộn với nước gừng, nhét vào trong lỗ mũi. Đau bên phải nhét bên trái và ngược lại (Long Châu Hoàn - Thánh Tễ Tổng Lục).
+ Trị điếc do bế khí: Khâu dẫn, Xuyên khung, mỗi thứ 20g, tán bột, mỗi lần uống 8g với nước sắc Mạch môn (Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị ứ huyết do thấp đàm, kinh lạc ứ tắc gây đau: Xuyên ô đầu, Thảo ô đầu, Địa long, Thiên nam tinh, mỗi thứ 8g, Nhũ hương, Một dược, mỗi thứ 6g. Tán bột, chưng với rượu hồ làm thành viên. Mỗi lần uống 1 viên với nước sắc Kinh giới hoặc Tứ Vật Thang (Hoạt Lạc Đơn – Hòa Tễ Cục Phương).
+ Trị đầu đau do phong nhiệt: Địa long sao, tán bột, nước Gừng, Bán hạ, Xích phục linh các vị bằng nhau, tán bột, uống 2-4g với nước Sinh khương, Kinh giới, Bạc hà (Phổ Tế phương).
+ Trị răng sâu đau:  Địa long, hòa nước muối, trộn Miến, nhét vào trên răng (Phổ Tế phương).
+ Trị trẻ nhỏ bị động kinh cấp: Khâu dẫn tươi 1 con, gĩa nát, bỏ vào 1 viên Ngũ Phước Hóa Độc Đơn, tán bột, rồi sắc uống với nước sắc nước Bạc hà (Ngũ Phước Hoàn – Phổ Tế Phương).
+ Trị kinh phong, phiền loạn, trẻ con kinh phong mạn tính, tâm thần buồn bực, phiền não, gân mạch co quắp, vị hư, ký sinh trùng trong ruột quậy, uốn ngược mình mà la hét: Nhũ hương 2g, Hồ phấn 8g. Nghiền đều, lấy Khâu dẫn khoang cổ, gĩa nát, trộn thuốc bột làm thành viên to bằng hạt mè lớn. Mỗi lần uống 7-15 viên với nước Hành sắc (Nhũ Hương Hoàn - Phổ Tế phương).
+ Trị họng sưng nghẹt: lấy Giun đất nghiền với dấm ăn, cho nuốt dần, mửa ra đàm máu thì tốt (Phổ Tế phương).
+ Trị da đầu nổi vẩy trắng: bột Địa long, cho vào một ít Khinh phấn, trộn với dầu mè, xức vào (Phổ Tế phương).
+ Trị viêm quầng (đơn độc): Khâu dẫn 1 con, để nguyên đất, gĩa nhuyễn,  đắp vào (Phổ Tế Phương).
+ Trị sốt rét bứt rứt, bón nhiều:  Địa long sống 4 con, rửa sạch, nghiền nát như bùn, thêm một ít gừng tươi, một muỗng mật ong, một ít nước Bạc hà, lấy nước mới lấy ở dòng sông lên, nấu sôi quá thì thêm một ít Phiến não, mồ hôi ra thì đỡ, không đỡ dùng tiếp, rất có hiệu quả (Trực Chỉ phương).
+ Trị tiểu không thông: Khâu dẫn, gĩa nát, ngâm nước lọc lấy nước cốt nửa chén, uống ngay (Đẩu Môn phương).
+ Trị người lớn tuổi bị bí tiểu: Giun đất khoang cổ trắng, Hồi hương, 2 vị bằng nhau, gĩa ép lấy nước uống (Châu Thị Tập Nghiệm phương).
+ Trị trẻ nhỏ bí tiểu do nhiệt kết: Địa long loại lớn, quết như bùn, bỏ vào một ít mật ong, đắp ở ngọc hành và dịch hoàn. Đốt Tàm thoái 4g, Chu sa, Long não, Xạ hương, mỗi thứ một ít, lấy Mạch môn, Đăng tâm sắc nước uống với thuốc (Toàn Ấu Tâm Giám phương).
+ Trị kinh phong mạn tính suy nhược quá: Phụ tử bỏ vỏ, rốn, nghiền sống, lấy Khâu dẫn khoang trắng bỏ trong đó mà lăn, cạo bột Phụ tử dính phía trên Khâu dẫn, làm viên to bằng hạt gạo, mỗi lần uống 10 viên với nước cơm (Bách Nhất Tuyển Phương).
+ Trị kinh phong cấp, mạn tính: ngày mồng 5 tháng 5, chọn Khâu dẫn, lấy dao tre cắt làm hai đoạn, đoạn nhảy nhanh để ra một bên, đoạn nhảy chậm để ra một nơi, nghiền nát riêng, bỏ vào một ít bột Chu sa, làm thành viên. Cần nhớ là nếu cấp kinh phong thì dùng bột của đoạn nhảy chậm, mỗi lần uống 5-7 viên với nước sắc Bạc hà (Kinh Nghiệm phương).
+ Trị trẻ nhỏ tinh hoàn bị sưng: Địa long còn nguyên đất, quết nhuyễn, trộn nước đắp vào (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết).
+ Trị đau một bên hay chính giữa đầu không chịu đựng được, dùng Địa long bỏ đất, sấy khô, Nhũ hương các vị bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 2g, vấn lại như vấn thuốc hút, để lên lửa đèn, lấy mũi hít hơi khói ấy (Thánh Huệ Long Hương Tán - Chiêm Liệu phương).
+ Trị răng đau, răng lung lay: Địa long khô, sao, Ngũ bội tử sao, hai vị bằng nhau, tán bột , trước hết lấy Gừng tươi xát vào răng, sau đó xức thuốc bột vào Ngựcï Dược Viện phương).
+ Trị điếc đột ngột: Khâu dẫn bỏ vào muối, hành, trộn chung thành nước, lấy nước đó, nhỏ vào tai (Thắng Kim phương).
+ Trị hạch lao ở cổ lở chảy nước: dùng đoạn dưới của rễ Kinh giới sắc nóng rửa. Dùng lá Hẹ trên đất có Khâu dẫn 1 nắm, hái lúc canh năm, để trên lửa hồng, cho khô. Tán bột. Mỗi một muỗng bỏ vào Nhũ hương, Một dược, Khinh phấn mỗi thứ 2g, Xuyên sơn  giáp 9 miếng vẩy, sao, tán bột, trộn với dầu xức vào (Bảo Mệnh Tập phương).
+ Trị nhện cắn bị thương: lấy 1 lá Hành, bỏ đầu nhọn, đem Khâu dẫn bỏ vào trong ống lá, ép 2 đầu đừng để cho mất hơi, lắc cho ra nước,  bôi vào nơi chỗ cắn (Đàm Thị Tiểu Nhi phương).
+ Trị sa trực trường dương chứng: lấy Kinh giới, Sinh khương sắc rửa, lấy Địa long (bỏ đất) 40g, Phác tiêu 8g, tán bột, trộn với dầu bôi vào (Toàn Ấu Tâm Kính phương).
+ Trị phong cùi đau, ngứa: Khâu dẫn khoang trắng (bỏ đất), lấy Táo nhục nghiền nát, trộn làm thành viên to bằng hạt ngô đồng lớn, mỗi lần uống 60 viên với rượu. Cử ăn gừng, tỏi, (Hoạt Nhân Tâm Thống phương).
+ Trị nhọt độc đã vỡ mủ: Lá Hẹ trên đất có giun đất, gĩa nát lấy nước đắp vào, ngày thay 3-4 lần (Phù Thọ Tinh phương).
+ Trị nhọt độc đã vỡ miệng: Địa long, Ngô thù du, tán bột, trộn dấm, hòa với Miến sống đắp dưới lòng bàn chân (Trích Huyền phương).
+ Trị sốt cao co giật : Địa long 10g, Toàn yết 3g, Câu đằng, Kim ngân hoa đều 12g, Liên kiều 10g, sắc uống. Hoặc dùng Địa long 100g, Chu sa 30g, tán nhuyễn, làm viên. Mỗi lần uống 3g (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+Trị hen suyễn : Địa long 12g, sắc uống hoặc dùng bột Địa long khô, mỗi lần 3-4g, ngày uống 2 lần. Hoặc dùng Địa long, Cam thảo tươi, lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 4—5g. Ngày hai lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+Trị sỏi đường tiểu : Địa long đỏ, Củ tỏi, Lá khoai lang đỏ, lượng vừa đủ, gĩa nát, đắp vùng bụng dưới, kết hợp uống thêm thuốc lợi tiểu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị huyết áp cao : uống cao lỏng Địa long 40%, mỗi lần 10ml, ngày 3 lần, đạt kết quả tốt (Mao Văn Hồng, Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1959, 4 : 39).
+Trị động kinh do chấn thương :Địa long khô 3-6g, sắc uống mỗi ngày. Liệu trình 2-12 tháng, bình quân 5,5 tháng. Trị 20 ca, khỏi 16, chuyển biến tốt 3. tỉ lệ có kết quả 95% (Chu Văn Chính, Hà Bắc Y Dược Tạp Chí 1983, 3 : 48).
+ Trị bệnh tâm thần phân liệt : Địa long 30g, Đường trắng 10g, sắc, chia 2 lần uống sáng tối. Mỗi tuần uống 6 thang, 60 thang là một liệu trình, có kết hợp thuốc an thần. Trị 30 ca, kết quả trước mắt 18 ca, số có kết quả nhiều, có tiến bộ và không kết quả, mỗi thứ 4 ca. Tổ II dùng Địa long tiêm bắp, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 4ml (mỗi ml tương đương 1g thuốc), kết hợp với thuốc an thần liều nhỏ. Trị 50 ca, khỏi 11, có kết quả rõ 14, có tiến bộ 12, không kết quả 13.
Tổ III dùng nước sắc Địa long, uống giống như tổ I. trị 30 ca, kết quả khỏi 2, có kết quả 7, có tiến bộ 8, không kết quả 13. kết quả tốt hơn đối với suyễn ứ huyết thực chứng (Thế Đức, Triết Giang Trung Y Dược 1979, 11 : 440).
+ Trị mề đay, dị ứng : Dung dịch Địa long 100% chích bắp, mỗi lần 2ml, 10 lần là một liệu trình, thường trị 1-2 liệu trình. Theo dõi 100 ca, tỉ lệ kết quả đạt 84% (Tân Y Học Tạp Chí 1976, 4 : 178).

Tìm hiểu thêm về địa long
Tên khoa học:
Lumbricus. họ Megascolecidae.
Mô tả:
Các loài giun đất chỉ Lumbricus thuộc họ Lumbricidae và chi Pgeretima thuộc họ Megascolecidae đều được dùng làm thuốc. Chi giun ở nước ta mới được xác định Pheretima SP., dài chừng 10-35cm, thô chừng 5-15mm, thân có nhiều đốt, ở mặt bụng và 2 bên thân có 4 đốt lông ngắn rất cứng giúp nó di chuyển được, vòng đai chiếm 3 đốt thứ 14-16. Giun đất tuy có quan hệ chủng loại phát sinh gần với giun nhiều tơ, nhưng cấu tạo cơ thể đã biến đổi để phù hợp với đời sống chui rúc ở trong đất. Giun đất lưỡng tính, tuyến sinh dục tập trung ở một số đốt. Khi trưởng thành, cơ thể giun đất hình thành đai sinh dục. Tuy lưỡng tính, nhưng chúng lại tiến hành thụ tinh chéo. Hai con giun châu đậu lại với nhau, đai sinh dục của con này ép vào lỗ nhận tinh của con kia. Tinh dịch tiết ra từ lỗ sinh dục đực, nhờ hệ co gĩan sẽ chui vào túi nhận tinh của đối phương. Sau khi thụ tinh thì hai con rời nhau. Sau vài ngày đai sinh dục dầy lên, do chất bài tiết từ tuyết biểu bì của đai sinh dục, thành một vòng đai đón nhận một ít trứng, tuột dần về phía trước, khi qua túi nhận tinh lấy tinh dịch để trứng thụ tinh. Vòng luồn qua đầu như kiểu tháo áo chui đầu. Vòng đai được bao bít hai đầu thành kén. Mỗi kén có từ 1 -20 trứng, phát triển không qua giai đoạn ấu trùng. Giun đất đặc biệt không có mắt, nhưng vẫn có cảm giác với ánh sáng là nhờ các tế bào cảm giác ánh sáng riêng lẻ phân tán dưới da. Giun đất chưa có cơ quan hô hấp riêng, nên qua kiểu hô hấp qua da. Da giun thường xuyên ẩm, nhờ vậy không khí thấm vào được dễ dàng, chính vì lẽ đó mà những ngày trời nắng giun đất không bò lên mặt đất. Giun đất sợ ánh sáng, nhưng sau những trận mưa rào đã làm cho đất nhão thành bùn bắt buộc chúng phải lũ lượt bò lên mặt đất để thở. Giun đất ăn mùn hữu cơ có lẫn trong đất, chúng dùng môi đào đất và nuốt đất vào ruột, khi thức ăn cùng với đất vào ống tiêu hóa, các tuyến tiêu hóa sẽ tiết ra các chất dịch để tiêu hóa chất mùn hữu cơ. Giun đất thải ra những viên bã và đất tròn xíu, mà ta thường gọi là Cứt giun, Cứt trùn trong Đông y gọi là Khâu dẫn nê hay Địa long nê. Giun đất ưa sống ở những nơi đất ẩm và gìau mùn hữu cơ. Ban ngày chúng lẫn ở dưới đất, đêm khuya khi sương xuống mới ngoi lên. Mật độ của giun đất thay đổi tùy theo đặc điểm lý hóa của đất, và chính hoạt động của giun đất đã đóng góp phần đáng kể trong việc thay đổi đặc điểm lý hóa được. Giun đất thường phân bố hẹp. Loại có khoang trắng tốt nhất.
Thu bắt, sơ chế:
Đào lấy thứ khoang cổ, loại gìa. Hay gặp nơi mô đất ẩm, đền đình chùa, gốc bụi chuối lâu năm. Muốn bắt dễ dàng, lấy nước lá Nghễ răm hay nước Bồ kết, nước Chè, ngâm nước đổ lên đất thì giun bò trườn lên. Người ta bắt bỏ nó vào thùng có chứa sẵn lá tre, rơm hoặc tro, rồi rửa sạch bằng nước ấm cho sạch chất nhớt, ép đuôi vào gỗ sau đó mổ dọc thân giun, rửa sạch đất trong bụng, phơi hoặc sấy khô cất dùng. Không dùng giun tự nhiên lên mặt đất (có bệnh mới lên).
 Mô tả dược liệu:
Toàn thể đã được cắt phẫu, biểu hiện một phiến dài nhỏ cong nhăn teo, dài chừng 12cm-20cm, rộng chừng 10mm-17mm, toàn thân có nhiều khoang vòng, hai đầu dầy mà cứng còn có sợi thịt mỏng tồn tại, chính giữa rất nhỏ, bán trong suốt, hai bên có màu đen tro, chính giữa màu vàng nâu, chất thu khó bẻ gẫy.
Bào chế:
1- Khi dùng Khâu dẫn, nếu muốn uống phải dùng khô, sao cho khô và làm vụn đi (Danh Y Biệt Lục).
2- Dùng 16 lượng Địa long, ngâm nước vo gạo 1 đêm, vớt ra để khô tẩm rượu một ngày sấy khô, rồi sao chung với Xuyên tiêu, gạo Nếp, mỗi thứ 2 chỉ rưỡi. Hễ gạo nếp chín vàng là được (Lôi Công Bào Chế).
3- Khi dùng sậy khô tán bột, hoặc trộn muối vào cho hóa ra nước, hoặc đốt tồn tính, tùy theo trường hợp mà dùng (Bản Thảo Cương Mục).
4- Ngày nay người ta dùng bằng cách sau khi chế sơ chế xong tẩm rượu hoặc tẩm gừng sao qua tán bột để dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
Bảo quản:
Tránh ẩm, đựng lọ kín.
Cách dùng:
Sắc uống nước, gĩa sống hoặc tán bột trộn vào hoàn tán.
Thành phần hoá học
+ Lumbroferine, Lumbritin, Terrestro-lumbrolysin, Hypoxathine, Xan thine, Adenine, Guanine, Choline, Guanidine, nhiều loại Acid amin, Vitamin và muối hữu cơ (Trung Dược Học).
+ Lumbritin, Lumbofebin, Terrestro-lumrilysin (Sinh Dược Học Khái Luận (Nhật Bản), Nhật Bản Nam Giang Đường 1990: 354).
+  Hypoxanthine, Xanthine, Adenine, Guanine, Guanidine, Choline, Alanine, Valine, Leucine, Phenylalanine, Tyrosine, Lysine (Giang  Tô Tân Y Học Viện, Trung Dược Đại Từ Điển (Q. Hạ), Thượng Hải Nhân Dân Xuất Bản 1977: 2111).
Tác dụng dược lý     
   
+ Tác dụng hạ nhiệt, an thần (Trung Dược Học).
+ Tác dụng đối với phế quản : thuốc làm gĩan phế quản nên có tác dụng hạ cơn suyễn (Trung Dược Học).
+ Thuốc có tác dụng hạ huyết áp chậm mà lâu dài, có thể do làm gĩan mạch nội tạng (Trung Dược Học).
+ Thuốc có tác dụng kháng Histamin và chống co giật (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Thuốc làm tăng hoạt tính dung giải của Fibrin chống hình thành huyết khối. Có tác dụng hưng phấn tử cung, chất chiết xuất diệt tinh trùng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Thuốc có tác dụng phá huyết do chất Lumbritin (Nhật Bản 1911).
+ Tác dụng giải nhiệt: cho uống 12g bột Địa long, thấy có tác dụng  hạ sốt. Đối với bệnh nhân sốt do cảm nhiễm, cho uống 0,3g thấy có tác dụng giảm sốt. Tác dụng giảm sốt xuất hiện sau nửa giờ đến 3 giờ, từ 2-5 giờ thì hết sốt, trở lại bình thường (Phó Tuấn Lục, Thiểm Tây Trung Y 1980, 10 (3): 138).
+ Tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương: Trị trúng phong (não thốt trúng khuyết huyết tính). Dùng dịch Địa long chích 10g/kg vào khoang bụng chuột bị chứng não thiếu máu bị trúng phong, thấy các triệu chứng giảm nhẹ (Uông Bội Căn, Sơn Tây Y Dược tạp Chí 1984, 13 (3): 133).
Tính vị:
+ Vị mặn, tính hàn (Bản Kinh).
+ Tính rất hàn, không độc (Danh Y Biệt Lục).
+ Vị đắng, cay, tính hàn (Trấn Nam Bản Thảo).
+ Vị mặn. Tính hàn (Trung Dược Học)..
Quy kinh:
+ Vào kinh Tỳ (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Vào kinh Can, Tỳ, Phế (Bản Thảo Tái Tân).
+ Vào kinh Vị, Thận (Dược Nghĩa Minh Biện).
+ Vào  3 kinh Tỳ, Vị, Thận (Trung Dược Học).
Tham khảo:
+ Khâu dẫn vị mặn tính lạnh, có tác dụng giáng tiết, chạy xuyên suốt khắp kinh lạc lại có thể thanh nhiệt chống co giật, lợi tiểu, bình suyễn. Đào Hoằng Cảnh ghi rằng có thể khử giun sán rất hiệu quả. ‘Trửu Hậu Phương’ dùng nó để trị sưng tinh hoàn hoặc tinh hoàn thụt lên đau bụng thắt không chịu nổi. Vì vậy mà Khấu Tông Thích lại dùng trong các chứng bệnh phong đi xuống do thận. Ấy là những cái hiện nay chúng ta cần phải nghiên cứu thêm trong lâm sàng (Trung Dược Học Giảng Nghĩa).
+ Theo báo cáo mới đây, dùng Địa long kết hợp với các thứ sau có thể phòng trị chứng ung thư, như: Địa long, Ngô công, Phong phòng (tổ ong), Bồ công anh, Bản lam căn, Toàn yết, Xà thoái mỗi thứ 40g. Bạch hoa xà thiệt thảo nửa cân. Tán bột luyện mật  làm viên, mỗi viên 8g. Uống sáng 1 viên, tối 1 viên với nước nóng. Lại có thể trị bệnh áp huyết cao, tán bột hoặc sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Phân biệt:
1- Ở Trung Quốc còn dùng  các con Pheretima asiatica Michaelsen và Allolobophora caliginosa Trapezoides,.. thuộc họ Megasclo lecidae, để làm thuốc.
2- Cần phân biệt với Rắn giun là một giống rắn có tên khoa học là Tpholops. Thoáng nhìn, ta dễ lẫn rắn giun với giun đất vì rắn cũng có cỡ lớn và màu nâu thẫm bóng láng như giun. Nếu quan sát  kỹ một chút, ta sẽ thấy thân rắn giun phủ vẩy như rắn. Đây là một loài rắn thực sự, do điều kiện sống chui dưới đất như giun, nên có hình dạng tương tự giun. Thân rắn giun hình trụ, có vẩy nhẵn bóng giúp con vật chui luồn dễ dàng. Mõm nhọn sắc, giúp con vật dễ khoan lỗ trong đất mềm. Đuôi ngắn có vẩy nhọn là chỗ tựa trên đất giúp rắn trườn về phía dưới. Mắt nhỏ ẩn dưới vẩy bên đầu, nên tránh khỏi sây sát khi rắn luồn trong đất. Rắn giun đào hầm dưới đất có khi sâu tới hàng mét và ăn các loại giun và sâu bọ ấu trùng ở đất. Người ta thường gọi là “Rắn hổ giun”, không cắn được người (Danh Từ Dược Học Đông Y)